Bài tiếp theo "10 tâm niệm khi giải đoán Tử Vi"

10 CƠ CẤU LIÊN ĐỚI CỦA TỬ VI

  • Trích học phái

"Tử vi Thiên Lương"

Bài viết này xin triển khai 10 liên đới cơ cấu của tử vi gọi là mở ngõ và gợi ý cho lĩnh vực xã hội học.

Chính bất như chiếu, thạch trung ẩn ngọc.

Tử vi có tất cả 14 chính diệu

Được coi là các giới tinh đỡ đầu cho cung trấn đóng và ai cũng phải nhìn nhận cặp Thái Dương - Thái Âm chủ về sự soi sáng. Trực chiếu hay còn gọi là xung chiếu thì mạnh mẽ hơn là tam hợp chiếu. Đại vận vào ngay cung của Nhật - Nguyệt, vị thế sáng sủa ( hay là bị lòa sáng ) làm đẹp và không tốt bằng đại vận ở cung được Nhật - Nguyệt chiếu.

Khi Cự Môn là cửa thành,

cửa của nhà quan

Nếu đóng ở Ngọ thì nên gọi là Ngọ Môn cho chính danh nơi vua ở. Và bên trong hẳn phải chất chứa bao điều bí mật về tài sản, về phong cách. Đóng ở cung Tí luôn có Thái Dương ở cung Thìn rọi sang Tam Hợp Chiếu - đèn chiếu tới cửa, nhưng cửa cài then đóng làm sao thấy được gì ở trong. Vậy cần phải có những yếu tố mở ngỏ nội công thì ngoại kích mới hữu hiệu, nằm vùng ngay tại cung của Cự Môn như Tuần Triệt, Song Hao, Kình Dương. Nỗ lực làm sao cho cửa thành được mở ra. Lúc ấy đen trời, Thái Dương mới tỏa rạng ở cung của Cự Môn, phơi bày cả một kho tàng mà chư thần tướng cao hứng ngâm vịnh. Kho trời chung mà vô tận của mình riêng. Biện chứng tương tự cho trường hợp Cự Môn ở cung Ngọ - Ngọ Môn khó khăn lắm mới mở được cửa nhà vua. Luôn luôn có Thái Dương ở cung Tuất lâm vào vị thế kém sang. Nhưng nếu Thái Dương ở Tuất gặp Hóa Kỵ hay thiên tài hoặc giả được đám sao Đào - Hồng - Linh - Hỏa hội nhập, nhị hợp tam hợp tiếp sức cho ánh dương rọi sáng cung Ngọ. Đồng thời Cự Môn tại Ngọ bị Tuần Triệt, Song Hao, Kình Dương đục phá thì rồi núi cũng phải lở, huống chi chỉ là cửa thành. Mà khi cửa nhà vua bật mở tung, chắc chắn đèn trời Thái Dương còn được chói rạng hơn vì trân châu, hột xoàn của kho vua lấp lánh. Thành ra Thạch Trung Ẩn Ngọc chỉ là một cách nói tượng trưng của người xưa, ý tại ngôn ngoại.

Vòng Thái Tuế, chìa khóa của quản trị học.

Căn bản của Tử Vi thuyết Thiên Lương là vòng Thái Tuế. Cho đến nay, tuy có nhiều người hâm mộ sự phát kiến của cụ, nhưng rất ít người hiểu rõ những hiệu lực nền tảng của vòng sao chất chứa mệnh tính này. Thành ra ngộ nhận một cách bất thuận lợi cho khoa tử vi chứ không phải cho người phát kiến. Vòng Thái Tuế là tam giác liên kết ba cung mạng năm sinh của tuổi. Ví dụ sinh năm Mão thì vòng Thái Tuế là tam giác nối ba cung Hợi Mão Mùi. Vòng này thiết lập ra để đối chiếu tính cách sinh khắc với tam giác của ba cung mệnh quan tài được coi là vòng tha nhân đã trình bày ở bài 10 điều tâm niệm khi đoán số tử vi. Cụ Thiên Lương gọi vòng Thái Tuế là vòng thiên thời để tìm xem đại vận nào tốt nhất trong đời. Nhưng có một khía cạnh tối quan trọng của vòng Thái Tuế mà ít người lưu tâm là tính chất phẩm hạnh và tác phong của bản số tử vi. Một cách dễ hiểu hơn, người viết xin đặt tên cho vòng Thái Tuế là vòng quản trị để góp phần hệ thống hóa mô thức điều hành xã hội trên thuật hướng vương đạo của tiền nhân.

Mô thức phân quyền của nếu lồng vào vòng quản trị của khoa Tử Vi sẽ diễn tiến như sau

Ba đỉnh của tam giác vòng quản trị là Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ. Mỗi đỉnh là một cục bộ của chủ quyền quốc gia, lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Ý nghĩa: dân chủ của thể chế chính trị tiến bộ là hình thái phân quyền để chủ quyền quốc gia được lành mạnh và quốc dân phú cường. Hình thái học của khảo hướng phân quyền là như thế, nhưng động lực thực hiện được phân quyền tốt đẹp thuộc khoa quản trị học là dùng người đúng chỗ là ưu điểm của nhà lãnh đạo. Áp dụng vào mô thức vòng quản trị của tử vi, ta có ngay sự sắp xếp thích nghi. Người có cung mệnh, thân nằm trên đỉnh Bạch Hổ chủ về cái mạnh bạo, mẫn cán và anh hùng của kẻ dám làm những điều chính đáng tốt lành. Quyền hành pháp trao cho người Bạch Hổ là hành pháp mạnh nhưng không chuyên quyền quán đả. Người có cung mệnh, thân nằm trên đỉnh quan phù chủ về sự tính toán minh bạch, tham khảo rạch ròi kẻ tóc chân tơ của người ngay chính cẩn thận. Quyền tư pháp nằm trong tay những người quan phù thì luật pháp được phê xử công minh và thích hợp với sở cầu của xã hội. Người có cung mệnh thân nằm trên đỉnh Thái Tuế chủ sự trầm mặc, đoan chính, có tác phong nghiêm nghị và lý luận, luôn luôn đường hoàng và tự tin. Quyền lập pháp trao cho người Thái Tuế là an ninh tinh thần của dân chúng. Luật pháp được thượng tôn, cán cân công lý được duy trì nghiêm cần. Địa kiếp chỉ đối với thiên lương, phép đối ngẫu của cổ văn Trương Việt Hoa đối âm, đối tiếng và đối nghĩa. Trong bộ lục bại tinh của tử vi có đôi sao Địa kiếp, Địa không được an theo giờ sinh, xuất phát từ cung Hợi theo chiều Âm - Dương, là căn bản của thuật số huyền học Đông Phương.

Sự hiệu nghiệm của hai sao này đã quá rõ ràng

Chúng đóng ở cung nào là y như có chuyện lình xình ở cung đó. Chiến lược của phản trắc tính Không Kiếp không thể phủ nhận, tất yếu sự hiện hữu là một mặc nhiên. Nhưng có vị trí giả đề nghị hủy giải sao Địa Không vì cho rằng tính lý không hạp đôi với Địa Kiếp và thay vào đó bằng sao Thiên Không. Kẻ viết vốn rất ngưỡng mộ sự canh cải để phục hồi giá trị cho khoa nhân văn Tử Vi nhưng không thể vì định kiến chỉ nam ấy mà quên giá trị nghiệm lý của cơ cấu các sao trên lá số.

Xin trình làng hai lý do: 1. Phép đối ngẫu địa kiếp hai âm trắc đối âm với thiên lương. Hai âm bằng địa kiếp là thực tự hợp với thiên lương, cũng là thực tự của cổ văn. Quan trọng hơn là xét đối nghĩa địa kiếp chỉ quân ăn cướp ở dưới trần thế thì Thiên Lương chỉ bậc hảo thiện ở trên trời. Trong khi Thiên Không chỉ có thể coi là hư tự của cổ văn và càng vô nghĩa khi phải đối với Địa Kiếp. Vậy thì càng không nên xét việc hủy thể địa không bằng đối luận. Vai trò của Thiên Không trong phép an sao Thái Tuế có sự định chuẩn rõ ràng. Trước Thái Tuế là Thiên Không và sau Thái Tuế là Quán Sách (Trực Phù). Tuế tiền nhất vị thị Thiên thiếu, hậu nhất vị Quán Sách (Trực Phù). Thiên Không và Thiếu Dương ở cung đằng trước Thái Tuế và Quán Sách (Trực Phù) ở cung đằng sau Thái Tuế. Người hành luật bi sắc tư phong lý thừa trừ của vòng Thái Tuế càng không thể phủ nhận sự đóng góp của sao Thiên Không khi nó luôn xuất hiện với tam giác thiên tả là Thiếu Dương - Tử Phù - Phúc Đức một hệ phái thoát ly của vòng Thái Tuế để thử thách người đời bởi vì vào đại vận của tam giác thiên tả, đương số lọt ngay vào sự bảo bọc của bộ sao Tứ Đức: Phúc Đức - Nguyệt Đức - Thiên Đức Long Đức hợp chiếu. Chưa kể các phúc tinh khác như Quan- Phúc, Quang - Quý, Hóa Khoa luôn luôn là như vậy mà tại sao cứ vào đại vận hay tiểu vận này, thiên hạ long đong lận đận khôn cùng. Sự kiện này chỉ có thể hiểu được khi có bộ mặt Thiên Không phá đám, khuấy đảo và dụ dỗ đám hư tinh Đào - Hồng vào chỗ tuyệt lộ.

Luận về ngũ hành Tư Ngộ

Khoa lý học Á Đông coi lẽ Âm Dương như định lý biến dịch và lấy ngũ hành làm hệ luận sinh khắc. Chu trình ngũ hành sinh và ngũ hành khắc đều là một chu trình khép kín. Ai nấy đều thông lý rõ ràng và không có gì thắc mắc. Nhưng trường hợp đồng hành của Ngũ Hành thì thật là phức tạp. Nhiều ý kiến trái ngược, tốt có và xấu cũng có. Theo sách Hồng Vũ Cẩm Thư của Dương Quân Tùng (Trung Hoa) thì trường hợp Ngũ Hành Tư Ngộ tạo ra ba hình thái thắng, hòa và bại như sau: Đồng hành Mộc - thắng và tươi tốt, đồng hành Kim - Thắng và phong phú, đồng hành Thổ - vừa phải, đồng hành Hỏa - bại, khẩu thiệt, đồng hành Thủy - thái quá. Việc này đem áp dụng vào công dụng lý đoán các sao và các cung trên tính cách bản hành nhất là đại vận của Thái Tuế sẽ thấy rõ hiệu lực của mức độ thành bại mỗi người. Ví dụ, người mạng Thổ nhập hạn Thái Tuế ở cung Mùi (Thổ) không thể thoải mái, vẻ vang bằng người mạng Kim mà lại nhập hạn Thái Tuế ở cung Thân hay Dậu (Kim).